Thành phố sau bão. Những cây cao bật gốc trên những vỉa hè ngổn ngang. Thảng thốt phát hiện ra một điều: hoá ra “bọn cây cối” thường ngày rậm bóng vậy mà rễ lại bám vào mặt đất rất cạn.
Người ta vẫn nói cây vươn lên trời bao nhiêu thì rễ đi sâu vào lòng đất bấy nhiêu để trụ vững trong gió bão. Vậy là trật rồi (với ít nhất là cây ở thành phố này, nhưng vì không phải là nhà “cây cối học”, nên chi không tiện phân tích nguyên nhân).
Lạ chưa. Có những cây xứng đáng liệt vào hàng cổ thụ, ngày ngày đổ cái bóng mát to hơn bóng một toà nhà, vậy mà giờ nằm kềnh bên đường, như một gã khổng lồ hoang dã bơ phờ tuyệt vọng dưới đèn vàng và gió khuya lạnh buốt.
Đám cây đổ gãy đập mạnh vào tâm trí một kẻ nhập cư. Nhưng sự thảng thốt cũng không đủ lâu. Hình ảnh ấy bị xua tan khi khung cảnh đường phố lập lại cái “trật tự tự phát” thường nhật khi trời bắt đầu rầm rì đuối gió. Lại giăng giăng quán xá vỉa hè. Cứ như thể những người nhập cư này không để cơn bão cướp đi từng phút mưu sinh. Họ bám chặt vỉa hè, cột điện còn hơn những gã cổ thụ nằm kềnh kia. Một nồi chè đậu về đêm. Một gánh bánh canh bột lọc. Một tủ bánh mì. Một xe mực nướng, cút nướng. Những tiếng lóc xóc hủ tíu. Viên gạch thềm đường chưa ráo bão đã nóng lên bởi nồi hột trứng vịt lộn sôi lóc róc… Mọi thứ lại đăng đăng đê đê. Nhịp điệu tự phát muôn năm. Nồng nàn và cuồng nhiệt. Mặc kệ tivi ra rả cảnh báo gió lạnh hoàn lưu, đuôi áp thấp. Xi nhê gì cơn bão trái mùa. Mùi vị và tiết tấu đắm say của một đêm mùa hạ được thiết lập trở lại rất nhanh, nuông chiều mọi giác quan.
Trong quán ốc đêm, người ta bàn tán chuyện ở nhà trọ bên cạnh, mái tôn bị tốc mái, ở trên đường X, Y bảng hiệu bị gió hốt quăng ra đường, chuyện bưng bê nồi niêu lội nước ngang lưng quần ra dọn quán. Và, dĩ nhiên, cả chuyện cây đổ… Những câu chuyện được kể bằng thổ âm của nhiều vùng miền khác nhau. Người ta kể bằng sự thảng thốt trải nghiệm. Và trên hết, người ta muốn chia sẻ cái cách mình đã vượt qua trở lực cơn bão để tái lập nhịp độ mưu sinh cũng bằng bản năng và kinh nghiệm tuyệt vời như thế nào.
Trong sự yên ổn của đời sống một kẻ nhập cư vừa được chứng nhận thị dân (trên giấy tờ hộ khẩu), kẻ đi dạo đêm sau bão vẫn chưa thoát được tâm lý quê mùa, thích hóng chuyện, thích quan tâm đến những thứ hầm bà lằng “chuyện bao đồng”. Trong đám kẹt xe, hắn thích nhìn bảng số xe để dáo dác tìm một gương mặt đồng hương. Trong môi trường công sở, hắn thích nghe những chuyện ký ức quê nhà của nhiều đồng nghiệp khác và chia sẻ kho tàng kỷ niệm quê hương của mình. Hắn cố gắng đi tìm sắc thái tính cách của vùng miền qua những món ngon đến từ các miền khác nhau. Hắn hoà nhập vào nhịp sống sôi động thành phố và tập tễnh làm một thị dân “phấn đấu phong lưu”. Nhưng trên hết, hắn vẫn có cái tính căn cốt lo toan của dân nhập cư, làm hôm nay lo hôm mai. Và rồi, có những khi hắn cảm thấy giật mình, tổn thương khi ai đó buông ra một câu “đồ nhà quê”, hay đổ trăm thứ tội nhếch nhác, phản văn minh cho hai chữ “quê mùa” – dù những mũi tên ngôn ngữ đó không hướng về phía mình.
Trong hắn (và có thể, trong tâm tưởng những người đốt hết tuổi trẻ cho cuộc mưu sinh khốc liệt nơi thành phố này) luôn tồn tại đan xen những mâu thuẫn: sự mặc cảm bên quay lưng với quê nhà sống chung với niềm kiêu hãnh của những thị dân mới, sự dấn thân đeo bám đô thị nhưng lại luôn nghĩ về thôn quê như chốn yên bình nương náu cuối cùng, sự cố gắng gạt đám phèn trong suy nghĩ nhưng lại rung động trước một cơn gió mùa lạnh làm nứt nẻ gót chân…
Và, hắn thích cái cách mà dân nhập cư làm nghề chữ nghĩa tự trào về cái sự “cày bừa” kiếm sống nơi thành phố này, rằng, đó là cuộc mưu sinh khốc liệt.
Hãy nghĩ xem, mỗi năm có thêm hơn 200.000 người nhập cư vào thành phố này, tính ra mỗi ngày thành phố đón hơn 547 người. 547 cuộc đời dấn thân tìm cơ hội đổi đời. Trong cuộc mưu sinh khốc liệt kia, không ai tính được có bao nhiêu người gãy gánh trở về chật vật thế nào để tìm cuộc sống cân bằng nơi thôn quê, biết bao thanh niên thất chí sống chìm trong các tệ nạn. Để rồi nhìn vào đó, người quê khi nhắc đến thành phố, sẽ còn ám ảnh, thở dài “đầy cạm bẫy!” Những kẻ còn dấn bước trong cuộc mưu sinh khốc liệt, mỗi năm đã đóng góp 30% GDP cho thành phố. Một đóng góp không nhỏ, đánh đổi bằng biết bao trí lực, sức lực, tuổi thanh xuân khát vọng của bao người.
Trong khi đó, trên tivi, các lãnh đạo vẫn dùng từ “bài toán nhập cư” để nói về độ khó quản lý những người mới đến. Nếu nhìn lại, thì lịch sử Sài Gòn – TP.HCM gắn với những cuộc nhập cư. Bài toán mà người xưa giải được trong từng giai đoạn lịch sử, chưa chắc đã dễ hơn bài toán của người nay. Vấn đề là người xưa đã “giải” một cách hợp lý, thuyết phục, qua đó huy động đóng góp của người nhập cư vào sự phát triển kinh tế, đời sống, chính trị, tạo nên diện mạo văn hoá thống nhất trong đa dạng để thành phố có một diện mạo và tính cách đặc thù mà ta vẫn gọi là “Sài Gòn”.
Sài Gòn – TP.HCM không từ chối một ai. Nói đến mảnh đất này là nói đến những cơ hội. Và cũng nói về sự sòng phẳng đến lạnh lùng. Ngay cả khi những thân cây lâu năm đã được đánh số, nếu sức sống của bộ rễ không kịp bám vào tầng đất sâu, thì vẫn rất có thể sẽ bật gốc vì những cơn bão trái mùa (có khập khiễng không khi so sánh hình ảnh đó với thân phận người nhập cư?) Người ta vẫn nói về tính hai mặt của vấn đề: cơ hội luôn đi đôi với thách thức.
Đừng lo. Chỉ sau một ngày, những chỗ cây bật gốc sẽ được thay vào bằng những cây xanh chở về từ một cánh rừng nào đó.
Nhìn cây xanh toả bóng mát xuống con đường cuồn cuộn người xe, có ai hình dung được những chuyển động âm thầm mà khốc liệt trong lòng đất.
NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
( Theo SGTT )













Comments are closed